Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

ĐỘT QUỴ KHÔNG "KỴ" TUỔI TÁC


Lâu nay, đột quỵ thường xảy ra với những người tuổi trên 50 nhưng nay bệnh đã tấn công vào những người trẻ tuổi hơn


Mới đây, người nhà ông L.V.B (45 tuổi, ở quận Thủ Đức - TPHCM) bị một phen hú vía do ông vừa trải qua khoảnh khắc từ cõi chết trở về. Là người có tiền sử cao huyết áp, ông B. ý thức được tình trạng sức khỏe của mình nên thường chơi thể thao sau giờ làm việc.
 
Tuy vậy, trong một chiều đánh quần vợt bỗng dưng ông bị tăng huyết áp, mất kiểm soát vận động và ngã sõng soài ra sân. Khi được đưa đi cấp cứu, ông B. chỉ còn 1%-2% cơ hội cứu sống do mất “thời khắc vàng” vì đi lòng vòng không đúng chuyên khoa.
3 phút, 1 người chết
Dù vậy, “còn nước còn tát”, chạy đua cùng thời gian, các bác sĩ (BS) đã cứu được ông B. sau khi đánh tan cục máu đông mạch máu não. Tuy nhiên, những di chứng sau tai biến như liệt cơ, méo miệng là khó tránh khỏi. Giờ đây, khả năng phục hồi của ông B. phụ thuộc vào ý chí của ông và tập vật lý trị liệu.
Anh N.H.C (20 tuổi, ngụ Long An) là một thanh niên khỏe mạnh, không có tiền sử bệnh huyết áp, tim mạch song mới đây khi vừa ngủ dậy, anh C. bỗng cảm thấy đau đầu dữ dội kèm theo nôn ói rồi hôn mê. Anh C. được các BS Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TPHCM) xác định bị nhồi máu não dẫn đến đột quỵ. Những trường hợp trẻ như anh C. bị đột quỵ hiện không còn hiếm.
Tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy ngày nào cũng có bệnh nhân nhập viện vì bị đột quỵ
Ghi nhận tại một số bệnh viện có chuyên khoa tai biến mạch máu não, đột quỵ ở TPHCM như Chợ Rẫy, Nguyễn Trãi, Nhân dân 115, Gia Định, Nguyễn Tri Phương…, số ca đột quỵ nhập viện điều trị không ngừng tăng. Theo BS Nguyễn Huy Thắng, Phó Khoa Bệnh lý mạch máu não Bệnh viện Nhân dân 115, mỗi ngày khoa điều trị nội trú cho từ 130-160 bệnh nhân đột quỵ do tai biến mạch máu não, chưa kể số đến khám ngoại trú liên quan đến huyết áp, tim mạch.
BS Trần Chí Cường, Trưởng Khoa Can thiệp mạch máu (DSA) Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, cho biết đột quỵ là căn bệnh có tỉ lệ tử vong cao đứng thứ ba sau ung thư và tim mạch hiện nay. Bệnh này xảy ra do nhồi máu não hoặc xuất huyết não.

 
Nhóm bệnh nhân bị nhồi máu não chiếm 80% do nghẽn hoặc hẹp mạch máu não; còn xuất huyết não do bệnh nhân bị tăng huyết áp, mắc các bệnh lý dị dạng mạch máu não, phình mạch máu não. Y văn thế giới ghi nhận: Cứ 45 giây, toàn cầu có 1 người bị đột quỵ và 3 phút có 1 ca tử vong do bệnh này gây ra.
Người trẻ mắc bệnh gia tăng
Theo Hội Phòng chống tai biến mạch máu não Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng 200.000 người bị tai biến mạch máu não, làm gần 100.000 người tử vong. Đây là bệnh của hệ thần kinh phổ biến nhất hiện nay, với tần suất xuất hiện 1,5 ca/1.000 người/năm. Còn tại TPHCM, trong khoảng 19.000 người mắc đột quỵ mỗi năm, có 1.000 trường hợp tử vong.
Các chuyên gia y tế cho biết bệnh nhân đột quỵ ngày càng trẻ hóa. Một trong những nguyên nhân là do lối sống lười vận động, lạm dụng rượu bia, hút nhiều thuốc lá… Nếu khoảng 10 năm trước chỉ có khoảng 1,7% bệnh nhân trẻ tuổi nhập viện vì đột quỵ thì nay con số này là 3%, trong đó tỉ lệ nam mắc bệnh cao gấp 4 lần nữ.
 
Theo BS Nguyễn Huy Thắng, trong số bệnh nhân đột quỵ nói trên, có 20 trường hợp tuổi dưới 40, đặc biệt có bệnh nhân chỉ mới 20 tuổi. Còn tại Bệnh viện Nguyễn Trãi, theo ThS-BS Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó Phòng Kế hoạch Tổng hợp, số người trẻ bị đột quỵ vào viện cũng tăng với tỉ lệ 20%-30% so với vài năm trước đây…
BS Trần Chí Cường cho hay đột quỵ xảy ra bất cứ lúc nào và không chừa ai, từ trẻ tuổi đến người lớn tuổi, nhà giàu đến người nghèo, lao động trí óc đến chân tay… Tại Bệnh viện Đại học Y Dược cũng từng tiếp nhận bé mới 3 tuần tuổi đến 3 tuổi mắc chứng này.
Các BS khuyến cáo cơ hội cứu sống bệnh nhân đột quỵ là phải được cấp cứu đúng “giờ vàng” (trong vòng 3 giờ). Tuy nhiên, đáng báo động là hiện nay Việt Nam đang thiếu các trung tâm đột quỵ chuyên sâu, làm cho cơ hội được cứu sống hoặc hạn chế di chứng cho bệnh nhân đột quỵ ít đi. Đó là chưa kể đến nạn kẹt xe làm cho việc chuyển bệnh nhân cấp cứu khó khăn.

 
“Tại Mỹ, các trung tâm đột quỵ mỗi ngày chỉ can thiệp khoảng 3-4 ca nhưng ở nước ta, chỉ riêng Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM đã can thiệp cho từ 8-10 ca, như vậy mới thấy rằng một trung tâm đột quỵ chuyên sâu là quan trọng đến mức nào” - BS Cường nhấn mạnh.
Dễ tái phát
Theo các BS, ngoài tử vong cao, đột quỵ còn rất dễ tái phát trong vòng 5 năm. Vì vậy, cách phòng ngừa là phải kiểm soát, tránh các yếu tố nguy cơ gây bệnh, đặc biệt ở những người bị cao huyết áp, hút thuốc lá, bệnh tim mạch, nghiện rượu, béo phì, đái tháo đường, sử dụng thuốc ngừa thai.
Bài và ảnh: NGUYỄN THẠNH

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

THƯỜNG THỨC VỀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO


 Một trong những bệnh lí được đề cập đến như một vấn đề nóng hổi của y học là tai biến mạch máu não. Ngoài vấn đề tỉ lệ tử vong cao, tai biến mạch máu não còn để lại hàng loạt di chứng cho bệnh nhân và đưa đến một gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội cả về tài chính lẫn tinh thần. Một vài thông tin sau đây sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn về căn bệnh này.

I – Tai biến mạch máu não là gì?
Trong y văn, tai biến mạch máu não vẫn được định nghĩa là: những khuyết tật thần kinh tâm thần, khởi phát đột ngột, diễn biến trên 24 giờ, loại trừ chấn thương sọ não và trên một bệnh nhân có yếu tố nguy cơ.
Những khuyết tật thần kinh tâm thần trong tai biến mạch máu não rất đa dạng, tùy thuộc vào vị trí tổn thương của thần kinh trung ương, nhưng thường gặp nhất là liệt nửa người, mất cảm giác nửa người, liệt mặt gây méo miệng, đại tiểu tiện không tự chủ …
Khác với các bệnh lí thần kinh mạn tính (như thoái hóa não) hoặc ác tính (như u não), tai biến mạch máu não thường khởi phát rất đột ngột. Bệnh nhân có thể đang sinh hoạt rất bình thường, bỗng nhiên ngã xuống, bất tỉnh hoặc đột ngột thấy tê bì một vùng cơ thể. Chính do hình ảnh “bỗng nhiên ngã xuống” mà người ta còn gọi tai biến mạch máu não là đột quỵ.
Đặc điểm của tai biến mạch máu não là những vấn đề với mạch máu não xuất hiện tự nhiên bên trong hộp sọ, không do va chạm, chấn thương sọ não. Đây là một lưu ý quan trọng đối với người nhà bệnh nhân, bởi khi bệnh nhân có các dấu hiệu bất thường, chúng ta sẽ cần phân biệt để đưa bệnh nhân tới những cơ sở y tế hợp lí.
II – Yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não

Sơ đồ mạch máu não
Nhìn chung, những vấn đề sức khỏe sau là yếu tố gia tăng khả năng bị tai biến mạch máu não:
·         Đã từng có tiền sử tai biến mạch máu não: do vậy, bệnh nhân tai biến không được phép chủ quan, cho rằng mình đã khỏi bệnh và không bao giờ bị lại.
·         Các bệnh lí chuyển hóa: đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì.
·         Các bệnh lí tim mạch: xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, bệnh van tim, rối loạn nhịp tim (đặc biệt là rung nhĩ).
·         Hút thuốc lá, uống rượu bia nhiều.
·         Đang sử dụng các chất chống đông.
III – Tai biến mạch máu não có hai thể chính
Chảy máu não
  • Nhồi máu não: Gây ra do một cục máu đông di chuyển trong động mạch, sau đó di chuyển tới mạch não và tắc lại ở đó. Khi cục máu đông bít tắc một động mạch não thì toàn bộ vùng não được động mạch đó cấp máu sẽ không còn dinh dưỡng và oxy nữa. Vùng não thiếu máu đó sẽ dần bị chết và mất chức năng. Do vậy, nhồi máu thường hồi phục chậm và nhiều khi khó có thể về được bình thường.
  • Chảy máu não (hay xuất huyết não): Gây ra do một động mạch trong hộp sọ bị vỡ, máu tràn ra khỏi lòng mạch và chèn ép vào các vùng não xung quanh. Do bị chèn ép, các vùng não hoạt động không chính xác, dẫn tới các biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân. Tuy nhiên, nếu như giải thoát được chèn ép thì vùng não đó vẫn có khả năng hoạt động trở lại. Do vậy, nếu kiểm soát được tình trạng chảy máu não thì bệnh nhân sẽ hồi phục nhanh hơn.
IV – Triệu chứng của tai biến mạch máu não
Triệu chứng lâm sàng chỉ giúp chẩn đoán bệnh nhân có tai biến mạch máu não, không giúp chẩn đoán thể bệnh. Một số triệu chứng sau, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân có thể phát hiện thấy; và khi có các triệu chứng này thì nên đưa bệnh nhân đi bệnh viện:
  • Bệnh nhân đột nhiên ngã xuống, hoặc lơ mơ, nói lẫn lộn, hoặc bất tỉnh.
  • Bệnh nhân đột nhiên đau đầu dữ dội, nôn nhất là khi ngồi dậy, và có thể kèm theo nhìn mờ.
  • Bệnh nhân tự cảm thấy yếu một nửa người, hoặc người nhà thấy bệnh nhân cử động một bên người khó khăn hơn. Các biểu hiện có thể quan sát thấy: không đi lại được, giơ tay lên khó khăn, nắm tay không chặt…
  • Bệnh nhân tự cảm thấy tê bì một nửa người.
  • Bệnh nhân đại tiểu tiện không tự chủ.
  • Bệnh nhân đột ngột méo miệng. Có thể bảo bệnh nhân cười để thấy rõ hơn sự mất cân đối giữa hai bên khóe miệng.
  • Bệnh nhân đột ngột không nói được.
V – Làm gì khi nghĩ rằng một bệnh nhân bị tai biến mạch máu não?
Trước hết không được di chuyển bệnh nhân, kể cả cho bệnh nhân ngồi dậy. Khi có chảy máu não, khối máu tụ hình thành gây chèn ép, đồng thời làm tăng áp lực nội sọ. Khi thay đổi tư thế, áp lực nội sọ bị thay đổi, có thể dẫn đến một tình trạng gọi là tụt kẹt. Tụt kẹt rất nguy hiểm, bệnh nhân có thể ngừng thở và tử vong ngay trước mặt người nhà. Do các triệu chứng lâm sàng không giúp xác định chảy máu hay nhồi máu, nên với mọi trường hợp tai biến, cần để bệnh nhân nằm tại chỗ, không tự ý di chuyển bệnh nhân.
Ngay lập tức gọi điện cho trung tâm cấp cứu 115 đến vận chuyển bệnh nhân tới bệnh viện. Nếu là bệnh nhân ở ngoài đường hoặc không thể gọi được cấp cứu, cần vận chuyển bệnh nhân bằng cáng. Chú ý xem bệnh nhân có ngã đập đầu vào vật cứng không, và trên đầu có các vết bầm tím do va chạm không; trong trường hợp chấn thương sọ não, bệnh nhân cần được chuyển tới các phòng khám cấp cứu ngoại khoa (ví dụ như bệnh viện Việt Đức).
Trong lúc chờ cấp cứu tới, người nhà bệnh nhân cần duy trì sự thông thoáng đường thở cho bệnh nhân bằng cách nới lỏng cúc áo, tháo bỏ tất cả răng giả, vòng cổ hay khăn quàng. Đặt bệnh nhân nằm ngửa – trừ trường hợp bệnh nhân nôn nhiều, cần nghiêng đầu bệnh nhân về một phía để tránh dịch nôn trào ngược vào đường thở, không cho bệnh nhân ngồi dậy nôn để tránh tụt kẹt.
Chuẩn bị tất cả các giấy tờ về sức khỏe từ trước tới nay. Một bệnh nhân tai biến có thể đã từng vào viện, hãy đem theo giấy ra viện, các phim chụp lần trước và các đơn thuốc. Nếu bệnh nhân đang mắc đái tháo đường, tăng huyết áp… hãy đem theo sổ y bạ, các phiếu theo dõi đường huyết và huyết áp, đơn thuốc và mọi kết quả xét nghiệm đã có. Khi tới bệnh viện, thông báo cho bác sĩ mọi vấn đề sức khỏe bệnh nhân đang gặp phải, và những thói quen sinh hoạt như hút thuốc lá, uống rượu bia …
VI – Chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện
Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy, mặc dù đã được hướng dẫn chăm sóc bệnh nhân hàng ngày, nhưng nhiều người nhà bệnh nhân rất coi thường công việc này. Họ không hiểu rằng sự chăm sóc qua loa đại khái sẽ dẫn tới những hậu quả nhiều khi làm nặng thêm tình trạng của bệnh nhân.
Bệnh nhân tai biến thường có tâm lí không ổn định, cảm thấy bất lực với bản thân. Do vậy, việc động viên tinh thần, làm cho bệnh nhân vui có ý nghĩa to lớn trong việc điều trị. Bệnh nhân cần thường xuyên được giao tiếp với xã hội, chia sẻ cảm xúc với mọi người, nhất là những bệnh nhân đồng cảnh ngộ.
Đối với những bệnh nhân tai biến mạch máu não còn tỉnh táo, động viên bệnh nhân nói, ăn uống và tự cử động tại giường rất quan trọng, đặc biệt là nếu bệnh nhân có nói khó, ăn uống kém hoặc yếu nửa người. Các bài tập phục hồi chức năng sẽ được tiến hành khi bệnh nhân ổn định, dưới sự hướng dẫn của các chuyên viên về phục hồi chức năng; tuy nhiên, khi không có mặt các chuyên viên này, người nhà bệnh nhân vẫn cần tập luyện thường xuyên cho bệnh nhân.
Đối với những bệnh nhân tai biến mạch máu não đã hôn mê, rất nhiều vấn đề sẽ phát sinh trên bệnh nhân. Bệnh nhân không đi lại, không tự trở mình, không tự ho, không há miệng, không nói được, không khạc nhổ được, do đó, đờm dãi sẽ ứ đọng trong đường thở dẫn tới viêm phổi. Nếu để nằm ở một tư thế quá lâu, vùng da tiếp xúc với mặt giường sẽ bị thiếu nuôi dưỡng và dẫn tới loét. Những vết loét này, nếu được chăm sóc không chu đáo sẽ dẫn tới nhiễm khuẩn tại chỗ, và trong tình trạng hôn mê, bệnh nhân có thể bị nhiễm khuẩn huyết, điều trị vô cùng khó khăn. Ngoài ra, cũng do không tự vận động được, cấp máu cho các chi sẽ kém và các cơ bắp của bệnh nhân sẽ teo dần.
Do vậy, người nhà bệnh nhân cần nhớ:
  • Hàng ngày vỗ rung thường xuyên cho bệnh nhân.
  • Lăn trở bệnh nhân 2 tiếng/lần. Chú ý, nếu sử dụng đệm nước cho bệnh nhân thì nên lót phía trên đệm nước một chiếc khăn bông, bởi vỏ bọc của đệm nước làm bằng nhựa có độ ma sát cao, trong quá trình lăn trở có thể gây tổn thương cho da và gây loét.
  • Khi có các vết loét, cần thường xuyên lau rửa để vết loét nhanh lành và tránh nhiễm khuẩn.
  • Hàng ngày vẫn phải vệ sinh răng miệng và lau chùi thân thể cho bệnh nhân.
  • Thường xuyên xoa bóp và vận động chân tay cho bệnh nhân.
Tất cả những kĩ thuật trên đây nên được nhân viên y tế hướng dẫn ngay khi bệnh nhân nhập viện. Người nhà bệnh nhân cần học cách thực hiện đúng, và phải làm đủ thì mới có thể đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất. Hãy nhớ rằng đóng góp của người nhà vào sự thuyên giảm bệnh tật của bệnh nhân đôi khi còn lớn hơn đóng góp của nhân viên y tế.
VII – Làm gì khi bệnh nhân ra viện?
Việc chăm sóc bệnh nhân tai biến có thể sẽ kéo dài cả đời.
Tiếp tục các bài tập phục hồi chức năng đã được hướng dẫn khi điều trị nội trú. Luôn nhớ rằng bệnh nhân tai biến cảm thấy bất lực với bản thân, nhất là bệnh nhân cao tuổi, do đó, ý chí tập luyện sẽ rất kém. Việc động viên bệnh nhân cố gắng mỗi ngày là rất quan trọng.
Chế độ dinh dưỡng cũng quan trọng. Cần bổ sung nhiều thức ăn dễ tiêu hóa và có hàm lượng dinh dưỡng cao. Khi một bệnh nhân được nuôi dưỡng đủ, cơ thể mới có đủ năng lượng để hồi phục. Lưu ý, cần xin tư vấn về dinh dưỡng với các bệnh nhân đái tháo đường.
Nhiều bệnh nhân khi ra viện vẫn sẽ phải nằm một chỗ do bị liệt. Cần tiếp tục những nội dung chăm sóc bệnh nhân hàng ngày như đã đề cập ở phần trước.
Điều chỉnh mọi yếu tố nguy cơ mà bệnh nhân có. Xin xem phần tiếp theo.
Đặc biệt chú ý đến sự thay đổi cảm xúc của bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân sẽ đi vào trạng thái chán nản, buồn bã, và có thể dẫn tới trầm cảm, rất nguy hiểm.
VIII – Phòng bệnh
Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ đóng vai trò chính yếu trong phòng tránh tai biến mạch máu não. Bệnh nhân cần cố gắng thực hiện những vấn đề sau:
  • Bỏ thuốc lá, hạn chế uống rượu bia.
  • Thực hiện tốt chế độ điều trị ngoại trú với những bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp.
  • Đối với những cá nhân không tăng huyết áp, không sử dụng thuốc chống đông, không có tiền sử chảy máu não, nên tập thể dục nhẹ nhàng đều đặn hàng ngày.
  • Khám sức khỏe định kì 6 tháng – 1 năm/lần.
TÓM LẠI
  1. Tai biến mạch máu não là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có thể đe dọa tính mạng.
  2. Cần kiểm soát các yếu tố nguy cơ để phòng tránh tai biến mạch máu não.
  3. Cần biết cách phát hiện các triệu chứng để đưa bệnh nhân tới bệnh viện kịp thời.
  4. Khi phát hiện bệnh nhân tai biến, cần để bệnh nhân nằm tại chỗ, gọi cấp cứu, khai thông đường thở và chuẩn bị mọi giấy tờ về sức khỏe.
  5. Bệnh nhân tai biến rất cần được chăm sóc cả về thể chất và tinh thần. Việc chăm sóc có thể sẽ kéo dài cả đời.
Hoàng Bảo Long

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

PHÒNG TAI BIẾN MẠCH MÁU TRONG MÙA LẠNH



Tiết trời lạnh khiến mạch máu dễ co lại, có thể cản trở khả năng tuần hoàn máu hoặc tăng huyết áp đột ngột gây vỡ thành mạch. Nếu điều này xảy ra ở não thì sẽ làm tổn thương các khu trú thần kinh, thậm chí gây tử vong.

Trao đổi với VnExpress.net, Giáo sư, bác sĩ Hoàng Bảo Châu, nguyên viện trưởng Viện y học cổ truyền cho biết, trong cơ thể con người, máu được lưu thông trong mạch. Trong mùa rét, không khí lạnh khiến mạch máu vùng ngoại biên dễ co lại. Mạch co là một nguyên nhân khiến máu chảy chậm lại. Ở những người lớn tuổi, mạch máu ghồ ghề thì máu dễ bị ứ đọng, hình thành cục máu đông, gây tắc mạch.
Một trường hợp khác, mạch máu co dẫn đến huyết áp tăng cao đột ngột, áp lực vào thành mạch máu lớn khiến chúng bị vỡ, chảy máu ra ngoài. Những tổn thương trên xảy ra ở mạch máu não thì gọi là tai biến mạch máu não.
Ngoài lý do bị nhiễm lạnh, mạch máu co, nhiều nguyên nhân khác cũng khiến huyết áp tăng cao quá mức như stress, tức giận, nóng đột ngột... Điều đó cũng dẫn đến tai biến mạch máu não. Bệnh nhân bị tiểu đường, mỡ máu... có độ nhớt trong máu cao cũng có nguy cơ bị ứ tắc máu trong thành mạch, cản trợ quá trình tuần hoàn. Theo đó, bệnh này có thể gặp bất kỳ lúc nào, song trong tiết trời lạnh của mùa đông, mạch máu dễ co nên tình trạng đột quỵ xảy ra có phần nhiều hơn.
tai-bien-1-jpg-1357287836_500x0.jpg
Tai biến mạch máu não thường gặp  ở người cao tuổi. Một trong những giải pháp ngăn ngừa bệnh là sử dụng thực phẩm chức năng Tuần hoàn não Thái Dương. Sản phẩm chứa bạch quả, đinh lắng giúp tăng cường tuần hoàn máu, giảm nguy cơ hình thành cục máu đông, gây tắc mạch.
Bệnh thường gặp ở  người già trên 60 tuổi do khả năng thích nghi yếu, huyết áp dễ tăng cao. Giáo sư Lê Đức Hinh, Chủ tịch Hội thần kinh học Việt Nam cho biết, theo thống kê của Hội thần kinh học quốc tế, tỷ  lệ người bị tai biến mạch máu não hiện khoảng 0,2%. Trong đó bệnh nhân trên 80 tuổi chiếm 3%, 60-65 tuổi chiếm 1%, bệnh nhân 30-40 tuổi chỉ chiếm 0,03%. Còn tại Việt Nam, theo thống kê của 10 bệnh viện lớn, từ năm 2000 đến 2010 có đến hơn 18.000 người trên 65 tuổi bị bệnh này.
Giáo sư Hoàng Bảo Châu cho biết thêm, khi bị tai biến, não bệnh nhân bị kích thích mạnh dẫn đến hôn mê sâu hoặc nông. Nếu hôn mê sâu, mạch máu bị vỡ, máu chảy ra ngoài nhiều thì khả năng cao là người bệnh sẽ tử vong. Còn trong trường hợp hôn mê nông, máu bị thấm ít ra ngoài thành mạch hoặc xuất hiện cục máu đông trong mạch máu thì có thể phục hồi.
Sau khi hết hôn mê, não người bệnh vẫn bị tổn thương nên không đảm nhận tốt chức năng chỉ huy các bộ phận bên dưới, dẫn đến hoạt động của cơ thể không như ý muốn, mất cảm giác hoặc giảm khả năng nhìn... Song dù có thể phục hồi, bệnh nhân đã từng bị tai biến mạch máu não dễ có khả năng tái phát nên cần rất cẩn thận.
Cũng theo nguyên Viện trưởng Viện y học cổ truyền, bệnh tai biến mạch máu não diễn biến rất nhanh, tùy cơ địa từng người, nên ngay khi thấy những triệu chứng đầu tiên, người nhà  hãy đưa người bệnh vào viện. Khi người bệnh xuất hiện các dấu hiệu chân tay tê, huyết áp tăng cao gây đau đầu, u tai, buồn nôn... thì gia đình tuyệt đối không được vác, gập bụng bệnh nhân mà phải vận chuyển nhẹ nhàng, để nằm yên rồi gọi cấp cứu.
“Thậm chí ngay cả khi bạn có những biểu hiện thoáng qua như rơi cây bút, rơi chiếc đũa... cũng nên đi kiểm tra sớm bởi đó có thể là dấu hiệu một khu cư trú thần kinh trên não bị tổn thương, không được máu nuôi dưỡng đủ khiến việc chỉ huy hoạt động bên dưới bị yếu đi”, bác sĩ Châu nói.
Bệnh diễn biến nhanh, gây ra những hậu quả nguy hiểm và dễ tái phát nên bác sĩ Hoàng Bảo Châu khuyến cáo mọi người nên phòng bệnh cẩn thận. Vào mùa đông, người dân, nhất là người già với khả năng thích nghi kém phải luôn giữ ấm, đi ra ngoài cần đội mũ, tránh bị thay đổi nhiệt độ đột ngột. Điều quan trọng nhất là cần giữ huyết áp ổn định, tránh áp lực cao lên thành mạch máu dẫn đến vỡ mạch, chảy máu ra ngoài.
“Mỗi người có một chỉ số huyết áp khác nhau nên cần nắm được số đo của mình và thông báo với bác sĩ khi cần. Khi huyết áp tăng trên 20% so với lúc bình thường thì bị coi là áp huyết cao. Bên cạnh việc giữ ấm, mọi người cũng phải tránh những tác nhân xã hội như stress, căng thẳng, giữ cho tâm tĩnh... thì huyết áp mới ổn định”, Giáo sư Châu khuyến cáo.
Ngoài ra, việc ăn uống điều độ, tập thể dục vừa sức... cũng giúp bảo vệ mọi người trước bệnh tai biến mạch máu não. Bác sĩ Hoàng Bảo Châu cho biết thêm, khi chưa bị bệnh này hoặc đã từng mắc ở thể nhẹ (đã bình phục nhưng vẫn còn cục máu đông nhỏ) thì mọi người có thể dùng các loại thực phẩm chức năng Đông y chứa đinh lăng, bạch quả... để tăng cường hoạt huyết, giải dần các cục máu đông và tránh tái phát. 
Xuân Ngọc

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

NHỮNG NGHỀ HAY GẶP NGUY CƠ VỀ TIM MẠCH


Đặc điểm nhất định của một số công việc có thể làm gia tăng nguy cơ các cơn đau tim và các vấn đề khác.
Chẳng hạn như ngồi nhiều giờ tại bàn làm việc, căng thẳng, giờ làm bất thường và tiếp xúc với một số hóa chất, ô nhiễm cũng có thể gây tổn hại cho tim của bạn.
Dưới đây là một số công việc có thể làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mà bạn nên biết.
Nghề ít vận động (ngồi nhiều tại chỗ)
Những người có đặc thù nghề nghiệp ít vận động như nhân viên văn phòng sẽ có nguy cơ gặp các vấn đề về tim cao hơn so với những người có công việc hoạt động tích cực, Martha Grogan - bác sĩ tim mạch của Bệnh viện Mayo ở Rochester, Minnesota (Mỹ) nói.
Chưa có giải thích chi tiết nhưng ngồi trong một thời gian kéo dài có thể làm giảm độ nhạy cảm insulin và các enzyme thường phá vỡ chất béo. Vì thế, khi làm việc một thời gian, hãy đứng lên và đi bộ xung quanh để thể chất được thư giãn, nghỉ ngơi.
van-phong
Nghề ứng phó khẩn cấp
Những người làm công việc thường xuyên phải ứng phó khẩn cấp hay có những hoạt động căng thẳng cao như lính cứu hỏa, đội cứu hộ hay các sỹ quan cảnh sát… có nguy cơ mắc bệnh tim cao. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 22% trường hợp sỹ quan cảnh sát và 45% ở nhân viên cứu hỏa tử vong trong công việc do bệnh tim mạch, trong khi các công việc khác chỉ 15%.
Giờ làm việc kéo dài, theo ca, ăn uống không lành mạnh tại nơi làm việc, tiếp xúc thường xuyên với căng thẳng, hóa chất độc hại như carbon monoxide hoặc khác chất gây ô nhiễm cũng làm gia tăng nguy cơ khác như tăng huyết áp. Nếu bạn không thể thay đổi công việc, hãy tập trung vào rèn luyện thể chất, duy trì ăn uống lành mạnh và kiểm soát huyết áp thường xuyên.

Nghề lái xe
Tài xế có nhiều khả năng bị tăng huyết áp hơn so với những người khác, ông Peter L. Schnall, MD, giáo sư y khoatại Đại học California, Irvine nói. Nguyên nhân có thể là bởi vì lái xe là một nghề nghiệp ít vận động lại đòi hỏi phải cảnh giác để tránh tai nạn và giữ cho hành khách an toàn.
Trong một nghiên cứu, 56% lái xe buýt ở Đài Bắc (Trung Quốc) bị tăng huyết áp so với 31% lao động ở nghề khác. Những người này cũng có cholesterol cao hơn, trọng lượng cơ thể tăng và tỷ lệ mắc bệnh tim cũng nhiều hơn.
Nghề trực ca luân phiên
Trực ca luân phiên là lịch trình phổ biến đối với các bác sỹ, y tá và nhiều nghề khác. Đặc thù công việc này đã được chứng minh là có mối liên hệ với nguy cơ bệnh tim và tiểu đường type 2. Nguyên do là lịch trình công việc bất kể ngày đêm đã phá vỡ nhịp điệu sinh học. Mà "đồng hồ cơ thể" đóng một vai trò quan trọng trong đường máu, huyết áp, và các quy định của insulin.
Nhưng lối sống cũng có thể là một yếu tố nguy cơ. Những công nhân làm đêm dường như có khả năng hút thuốc nhiều hơn, Nieca Goldberg, giám đốc Trung tâm sức khỏe phụ nữ tại Trung tâm Y tế NYU Langone ở thành phố New York nói. Và thời gian ngủ ngắn cũng có liên quan đến nguy cơ bệnh tim lớn hơn (chỉ ngủ 5-6 giờ thay vì 7-8 giờ mỗi đêm ).
Công nhân hầm và cầu đường
Một nghiên cứu năm 1988 thực hiện trên hơn 5.000 công nhân đường hầm ở thành phố NewYork phát hiện thấy: Những người làm việc trong ngành giao thông, cầu đường có nguy cơ tử vong liên quan đến tim mạch tăng 35% so với bộ phận dân số khác. Nguyên nhân là do những lao động này tiếp xúc thường xuyên với mức độ carbon monoxide cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc với không khí ô nhiễm có thể làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.
Ngoài ra, làm việc nhiều giờ hay mất việc cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến các bệnh về tim.
Những nhân viên làm việc nhiều giờ liên tục cũng có nguy cơ bệnh tim cao hơn, nhất là với bệnh về động mạch vành. Tiến sĩ Schnall đã tìm thấy một nguy cơ gia tăng 67% đối với bệnh tim mạch vành trong số các công chức dân sự người Anh, người đã làm việc 11 giờ một ngày so với những người chỉ làm việc 7-8 giờ.
Nếu bạn không thể cắt giảm giờ của bạn, thay vì tập trung vào các yếu tố nguy cơ, bạn có thể kiểm soát: ăn nhiều trái cây và rau quả, ngủ đủ giấctập thể dục vài lần một tuần.
Trong khi một số ngành nghề có thể nguy hại đến tim của bạn thì có một điều rất ngạc nhiên là mất việc cũng có thể gây ra những nguy hại đối với trái tim. Theo một nghiên cứu năm 2004 và một nghiên cứu của Đại học Harvard từ năm 2009 cho thấy những người bị mất việc có nhiều khả năng phát triển một số vấn đề mới liên quan đến sức khỏe, chẳng hạn như huyết áp cao, tiểu đường và bệnh tim.
(Theo TTVN)

THỰC ĐƠN CHO NGƯỜI BỆNH TIM MẠCH


PGS. TS Trần Đình Toán, Trưởng khoa dinh dưỡng, Bệnh viện Hữu Nghị khẳng định: “Một chế độ ăn uống hợp lý, khoa học sẽ là một trong những biện pháp điều trị hữu hiệu bệnh tăng huyết áp và xơ vữa động mạch”.

Ăn uống đúng cách
Ăn uống đúng cách

“Ðối với phần lớn các bệnh tim mạch, bạn nên kiêng ăn mặn và chất béo. Nó không những làm bệnh thuyên giảm mà bạn còn bớt được chi phí tiền thuốc điều trị”. Đó là lời khuyên của PGS.TS.Trần Đình Toán, Trưởng khoa dinh dưỡng, Bệnh viện Hữu Nghị.

Hạn chế ăn mặn có ýnghĩa đặc biệt quan trọng nếu bị các bệnh suy tim, tăng huyết áp. Ăn mặn nghĩa là bạn phải hạn chế muối. Muối có nhiều trong nước chấm, các loại thức ăn khô như cá khô, chà bông, mắm...

Hãy tập thay đổi từ từ, đầu tiên đừng dùng nước chấm khi ăn, tránh các loại mắm, cá thịt khô, nếu cần hãy nấu ăn riêng.

Trên phương diện khoa học, việc ăn thiên về chất bột đường mà không có chất đạm sẽ gây ra nguy cơ rối loạn chuyển hóa chất béo và tăng huyết áp, ảnh hưởng đến hệ thống tim mạch. Do đó, chỉ nên ăn chay xen kẽ với chế độ ăn có thịt, cá và các chất protide khác như trứng, sữa… thì có lợi cho sức khỏe hơn, nhất là ở những người lớn tuổi.

PGS.TS Trần Đình Toán cho biết thêm: “Chế độ ăn hợp lý là ăn ít muối, các thành phần dinh dưỡng cân đối giữa tỷ lệ chất béo, chất đạm động vật, chất đạm thực vật và chất bột đường. Các món ăn nên thay đổi hằng ngày, nên ăn nhiều cá, các loại hải sản. Vì chất acide béo Omega 3 có trong các loại hải sản rất tốt cho hệ tim mạch”.

Nên ăn nhiều các loại rau quả, trái cây chứa nhiều chất xơ, vitamin và các khoáng chất vi lượng.

Chất xơ còn giúp hoạt động của hệ tiêu hóa dễ dàng, tránh được táo bón. Một số trái cây còn chứa các chất có tác dụng tốt đối với bệnh tim mạch, như bưởi có thể làm giảm mỡ trong máu, cà chua có thể giảm nguy cơ bị tai biến mạch máu não... Ðể tim hoạt động tốt, lượng potasium trong máu phải ổn định, không quá nhiều hay quá ít.

Người bị bệnh tim nên uống nước theo nhu cầu cơ thể, chỉ uống khi cảm thấy khát. Nếu bệnh của bạn chỉ ở mức độ nhẹ, việc hạn chế uống nước là không cần thiết. Những trường hợp suy tim nặng chỉ nên hạn chế uống khoảng 1 lít nước mỗi ngày. Nên nhớ rằng uống quá ít nước cũng rất nguy hiểm vì có thể gây tụt huyết áp, choáng váng, chóng mặt.



Từ bỏ rượu bia, thuốc lá

Y học đã chứng minh việc nghiện rượu bia có ảnh hưởng rất xấu đối với sức khỏe nói chung và bệnh tim mạch nói riêng. Việc sinh hoạt điều độ luôn là nguyên tắc quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe. Rượu bia có thể không ảnh hưởng đến bệnh tim nhưng lại gây bệnh dạ dày, bệnh gan.

Ngoài ra, có một thể bệnh tim đặc biệt gọi là bệnh cơ tim do rượu. Nếu bị bệnh này, bạn phải kiêng cữ rượu bia hoàn toàn.

Còn thuốc lá là thứ cần phải kiêng cữ tuyệt đối khi bị bệnh tim mạch. Thuốc lá ảnh hưởng rất xấu đối với các bệnh do nguyên nhân xơ vữa động mạch như thiếu máu não, thiếu máu cơ tim.

Nếu không bỏ thuốc lá, bạn có thể bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim... Và nhất thiết bạn phải cố gắng bằng mọi cách bỏ hút thuốc lá ngay khi biết mình bị bệnh tim mạch.

Thanh Huyền

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

CHỨNG SUY TIM



Suy tim là tình trạng cơ tim không đảm bảo được nhu cầu về cung cấp lượng tuần hoàn (đưa máu nghèo ôxy từ khắp cơ thể đổ về tim sau đó đưa lên phổi và đưa máu giàu ôxy từ phổi trở về tim rồi bơm đi khắp cơ thể). Có rất nhiều triệu chứng xảy ra cấp tính hay mạn tính. Bệnh có thể gặp ở mọi độ tuổi từ trẻ đến già. Các hình thái suy tim cũng khác nhau (suy thất trái, thất phải, suy cả hai thất); các cấp độ khác nhau: suy nhẹ, suy vừa và suy nặng.

co-tim-gianNguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu gây ra suy tim có thể do bệnh tim mắc phải, rối loạn nhịp tim và một số bệnh ở ngoài tim như: tăng huyết áp, thiếu máu nặng do mất máu cấp, do tan máu cấp, bệnh cường giáp, ngộ độc...
Suy tim có thể xảy ra cấp tính ở một số bệnh nhân không có triệu chứng trước đó. Nguyên nhân gồm nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim và hở van tim cấp do viêm nội tâm mạc hoặc các tình trạng bệnh lý khác...

Những triệu chứng của suy tim

Dấu hiệu cơ năng
Khó thở: Nhanh, nông, thường xuyên hoặc khi gắng sức; trường hợp suy tim cấp có thể khó thở dữ dội, co kéo và suy hô hấp nặng. Một số trường hợp có khó thở khi nói chuyện hoặc hoạt động nhẹ.
Ho: Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý của suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho thường nặng lên khi nằm. Tiểu đêm: Là do bài tiết dịch còn ứ lại trong ngày và tưới máu thận tăng lên trong tư thế nằm là một triệu chứng thường không đặc hiệu của suy tim.
Mệt mỏi: Những bệnh nhân suy tim cũng thường than phiền mệt mỏi và không thể gắng sức được. Các triệu chứng này liên quan đến rối loạn chức năng tim gây ra một phần do những thay đổi ở dòng máu ngoại vi và dòng máu tới hệ xương mà những thay đổi này là một phần của hội chứng suy tim. Những bệnh nhân suy tim nặng lâu ngày có thể xuất hiện toàn trạng suy mòn và tím tái. Ngoài ra bệnh nhân thường có dấu hiệu cường thần kinh giao cảm như lạnh đầu chi, vã mồ hôi...
Đau hạ sườn phải: Những bệnh nhân suy tim phải có thể bị đau ở hạ sườn phải do ứ máu ở gan quá mức.
Dấu hiệu tiêu hóa: Chán ăn, buồn nôn do phù ruột và tưới máu đường tiêu hóa giảm...
Khám thực thể:
Phổi: Do sung huyết ở phổi nên nghe có tiếng ran ẩm ở đáy phổi. Nếu có phù phổi ran ẩm rất nhiều ở cả hai phổi.
Gan: Gan to, ấn hơi đau tức, ứ máu ngoại biên, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính.
Nghe tim: Tim đập nhanh kể cả khi nghỉ ngơi, tiếng tim mờ, có tiếng ngựa phi, diện tim to, mạch nhanh, yếu.
Phù: Có thể chỉ phù nhẹ ở mi mắt, đến phù to ở chi dưới. Một số trường hợp suy tim lâu không hồi phục có thể có cổ trướng.
Trụy mạch trong trường hợp nặng: Người bệnh ở tình trạng vật vã, lo sợ hoặc lờ đờ, da xanh tái, đầu chi lạnh, nổi vân tím, mạch nhỏ hoặc khó bắt, huyết áp hạ dưới 50 mmHg, tiểu ít.
Các dấu hiệu cận lâm sàng
Xét nghiệm máu thấy công thức hồng cầu giảm hoặc đa hồng cầu, urê huyết thanh tăng mất cân đối so với creatinin; điện giải đồ có hạ natri máu...
Điện tâm đồ cho thấy có rối loạn nhịp, rối loạn dẫn truyền nhĩ thất... Xquang lồng ngực thấy tim to hoặc có bóng tim, tràn dịch màng phổi. Các thăm dò không chảy máu như:
+ Nghiệm pháp gắng sức, siêu âm tim cho biết kích thước và chức năng của cả hai thất và của tâm nhĩ, cho phép phát hiện tràn dịch màng tim. Chụp buồng tim bằng phóng xạ hạt nhân.
+ Thông dò tim (thông tim trái và thông tim phải).

Điều trị suy tim

nhoi-mau-co-timNguyên tắc điều trị suy tim gồm điều trị triệu chứng chung và điều trị nguyên nhân. Trong cấp cứu phải xử trí nhanh các triệu chứng suy tim trước. Điều trị triệu chứng bằng các thuốc trợ tim, lợi tiểu và các điều trị hỗ trợ khác bao gồm:
Lợi tiểu: Lợi tiểu là biện pháp có hiệu quả nhất để giảm nhẹ các triệu chứng ở những bệnh nhân bị suy tim vừa và nặng. Tuy nhiên lợi tiểu quá mạnh có thể dẫn tới mất cân bằng điện giải và họat hóa thần kinh nội tiết.
Thuốc giãn mạch: như các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) đã trở thành điều trị chuẩn trong suy tim; các thuốc hydralazin làm giãn tiểu động mạch vành, làm tăng rõ rệt cung lượng tim ở các bệnh nhân suy tim ứ trệ; thuốc chẹn bêta giao cảm anpha, tăng sức bóp cơ tim, chẹn dòng canxi; thuốc chống đông; điều trị loạn nhịp tùy theo nguyên nhân.
Việc điều trị nguyên nhân nhiều khi cũng góp phần tích cực làm giảm suy tim nhanh trong cấp cứu. Các nguyên nhân chủ yếu có thể điều trị được là rối loạn chức năng thất trái do thiếu máu cục bộ, nhiễm độc giáp, suy giáp, các tổn thương van tim, các rối loạn nhịp, viêm cơ tim cấp, phì đại thất trái do tăng huyết áp...
Chế độ ăn và sinh hoạt:  chế độ ăn và sinh hoạt cũng rất quan trọng góp phần điều trị suy tim. Bệnh nhân phải tuân theo chế độ hạn chế muối hằng ngày nhỏ hơn 2g; thay đổi phong cách sống sẽ giảm được các triệu chứng và nhu cầu sử dụng thuốc. Trong suy tim nặng hạn chế hoạt động thể lực, nghỉ ngơi tại giường nếu cần thiết. Sau đó hoạt động trở lại từ từ có sự theo dõi sát của bác sĩ.
Ghép tim: Là biện pháp hiệu quả cứu sống bệnh nhân suy tim nặng. Hiện nay ghép tim đã được thực hiện ở nhiều trung tâm trên toàn thế giới, tuy nhiên giá thành cao và người cho tim có hạn nên mới có tỷ lệ rất ít người bệnh được phẫu thuật ghép tim trong khi nhu cầu của bệnh nhân ghép tim là rất lớn.
BS. Nguyễn Văn Kiểm

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

BỆNH TIM MẠCH GIA TĂNG TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN


Trong khi tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở các nước phát triển giảm nhanh chóng thì số người mắc bệnh ở các nước đang phát triển lại gia tăng bởi những thói xấu như lười vận động, chế độ dinh dưỡng bất hợp lý gây tăng cân, béo phì...
Theo báo cáo mới nhất của WHO, khoảng 17,5 triệu người tử vong vì bệnh tim mạch trên toàn thế giới mỗi năm. Nếu không có một hành động tích cực thì đến năm 2015 sẽ có 20 triệu người trên toàn thế giới chết do bệnh tim mạch và tập trung nhiều ở các nước đang phát triển (khoảng 80%).

Cụ thể, tại Việt Nam, vào năm 2017 này, trên 20% người Việt sẽ mắc bệnh, tức là cứ 5 người sẽ có một người bị tim mạch (theo nghiên cứu điều tra dịch tễ các yếu tố nguy cơ tim mạch chính ở người từ 40 tuổi trên phạm vi tỉnh Khánh Hòa gần đây nhất). Nguyên nhân là những thói xấu của các nước phát triển như lười vận động, chế độ dinh dưỡng bất hợp lý gây tăng cân, béo phì; thói quen hút thuốc và nhả khói thuốc tùy tiện nơi công cộng; căng thẳng do nếp sống công nghiệp…
Để nhận biết sớm bệnh tăng huyết áp, cần kiểm tra huyết áp mỗi năm 1 lần khi ngoài 20 tuổi và 3 lần/năm khi ngoài 40 tuổi.
Để nhận biết sớm bệnh tăng huyết áp, bạn nên kiểm tra huyết áp mỗi năm một lần khi ngoài 20 tuổi và 3 lần/năm khi ngoài 40 tuổi.
Tim mạch là chứng bệnh có thể kiểm soát, khống chế thông qua các hoạt động đơn giản như kiểm tra huyết áp định kỳ, tự trả lời các câu hỏi như có hút thuốc? có thừa cân? có uống nhiều rượu? có ai trong gia đình mắc bệnh tim mạch hay huyết áp?... Kỹ lưỡng hơn, bạn có thể đến bác sĩ để thực hiện các xét nghiệm về cholesterol, triglycerid, đường trong máu, điện tâm đồ… và điền các thông số này vào “Thang điểm Framingham 2011” tại chuyên mục Giáo dục sức khỏe cộng đồng về bệnh tim mạch (http://vnha.org.vn/100faq.asp) do Hội Tim mạch học Việt Nam thực hiện dưới sự hỗ trợ của AstraZeneca Việt Nam, để xác định kết quả của 10 năm tới.
Theo Giáo sư Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam, tăng huyết áp là một trong 3 “sát thủ” chính gây ra các bệnh tim mạch. Do đó, để nhận biết sớm bệnh tăng huyết áp, bạn nên kiểm tra huyết áp mỗi năm một lần khi ngoài 20 tuổi và 3 lần một năm khi ngoài 40 tuổi… Song song với đó, bạn nên chú ý các biểu hiển sớm như đau đầu, buồn nôn, mờ mắt, chóng mặt… Khi có bệnh, bạn nên tuân thủ tuyệt đối hướng dẫn điều trị của bác sĩ (từ dùng thuốc đến tái khám…).
Xơ vữa động mạch là một trong những bệnh tim mạch thường gặp và là “thủ phạm” gây đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, những bệnh gây tử vong hàng đầu trong các bệnh tim mạch. Tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng, Tổng thư ký Hội tim mạch học Việt Nam khẳng định việc ngăn chặn chứng bệnh này không khó, chỉ cần kiểm tra cholesterol định kỳ, tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ trong dùng thuốc giảm mỡ máu và thay đổi lối sống.
Việc ngăn chặn sự phát triển của bệnh tim mạch tại Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào bản thân mỗi người. Đó là ý thức tìm hiểu về bệnh cũng như tuân thủ hướng dẫn về lối sống và dùng thuốc.
(Nguồn: Hội Tim mạch học Việt Nam)